FDA cảnh báo về tác hại của tinh chất mầm đậu nành

Trên wesite của Cục Quản lý Dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã có ba bài nghiên cứu về isoflavones có trong tinh chất mầm đậu nành với những tác hại nghiêm trọng. Những cảnh báo này một lần nữa nhắc nhở người tiêu dùng (NTD) cẩn trọng với tinh chất nguy hiểm này.

Nghiên cứu có tên “Isoflavones đậu nành trong chế độ ăn làm tăng di căn đến phổi trên mẫu thử nghiệm với đối tượng bị ung thư vú có di căn xương vi thể” do nhóm các GS.BS. Yang X, Belosay A, Hartman JA, Song H, Zhang Y, Wang W và Doerge thực hiện, công bố vào tháng 4/2015 cho thấy sự nguy hiểm khi dùng tinh chất mầm đậu nành.

Trong nghiên cứu chỉ ra xương là một trong những vị trí dễ di căn nhiều nhất của ung thư vú. Những di căn nhỏ vào tủy xương được tìm thấy 30% bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I, II, hay III sau lần mổ đầu tiên với một tiên lượng xấu.

fda-canh-bao-ve-tac-hai-mam-dau-nanh-01

Các bài nghiên cứu được đăng tải trên FDA cho thấy mức độ ảnh hưởng của tinh chất mầm đậu nành không hề nhỏ

“Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát tác dụng của chất genistein, một chất trong tinh chất mầm đậu nành được xác định là tác nhân gây ung thư vú và một hỗn hợp isoflavones đậu nành, trên bệnh nhân ung thư vú có di căn trong xương, bằng cách dùng mẫu ung thư thực nghiệm tế bào xử lý ở chuột. Tiêm lượng tế bào vào xương chày của chuột để gây ra u nhỏ trong xương. Isoflavones đậu nành được bổ sung trong chế độ ăn AIN-93G liều 750 mg/kg và được bổ sung suốt 3 tuần trước và 3 tuần sau khi tiêm tế bào. Chụp sinh ảnh (Bioluminescent imaging) được thực hiện vào các ngày 2, 6, 8, 16 và 20 sau khi tiêm và kết quả cho thấy isoflavones đậu nành làm tăng trưởng di căn nhỏ trong xương từ ngày thứ 8” – nghiên cứu đúc kết.

Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy chế độ ăn có tinh chất mầm đậu nành kích thích sự hình thành di căn phổi và tăng biểu hiện protein trong những bướu di căn này. Trong phòng thí nghiệm, isoflavones trong đậu nành thể hiện tác dụng có giới hạn trên sự tăng trưởng, di động hay xâm lấn của tế bào. Do đó, trên sinh vật, tác dụng kích thích có thể cũng tương tự nhờ vào tác dụng hệ thống giữa ký chủ và isoflavones đậu nành. “Tóm lại, isoflavones có trong tinh chất mầm đậu nành kích thích ung thư vú có di căn ở chuột và cần nghiên cứu thêm trên chế độ ăn những bệnh nhân ung thư còn sống” – nghiên cứu gút lại.

Cảnh báo khác trong một nghiên cứu thực hiện vào năm 1991 được đăng tải trên FDA cho thấy, nhiều nghiên cứu đã được công bố cho thấy giai đoạn mọc mầm của đậu nành là giai đoạn có chứa nhiều Isoflavones nhất, và khuyến cáo không nên dùng các sản phẩm này ở giai đoạn mầm. Một kết quả nghiên cứu được đăng tải trên FDA năm 2004 cho thấy điều này sau khi thí nghiệm trên các con cừu. Việc những con cừu được cho ăn những loại thực vật giai đoạn nảy mầm có chứa hàm lượng isoflavones cao đã gây rối loạn sinh sản ở cừu.

Tại nghiên cứu “Tăng độ nhạy cảm với Azoxymethane trên chuột cái sau chế độ ăn bỏ sung Isoflavone đậu nành” vào năm 2004, cho thấy dù Isoflavones đậu nành được cho là chất bổ sung phổ biến ở phụ nữ trung niên dựa trên khả năng có thể bảo vệ khỏi ung thư vú và tác dụng thay thế hormone. Nhưng thực tế, nhiều nghiên cứu đã công bố thường dùng isoflavones đậu nành chủ yếu trên những con chuột đực trẻ. Nhóm tác gỉa của Hiệp hội FDA gồm B. Magnuson, K. Daly hay M. Malik… thực hiện trên 334 chuột cái Fisher trẻ (1 tháng), trưởng thành (11 tháng) và già (22 tháng) được nuôi hoặc bằng chế độ có kiểm soát (AIN-93G) hoặc chế độ AIN-93G chứa 0,4% isoflavone trong 1 tuần. Chuột được tiêm 20 mg/kg AOM và tiếp tục các chế độ ăn trong 12 tuần. Trong tất cả các nhóm, chuột có bổ sung isoflavone sụt cân nhiều hơn và hồi phục chậm hơn so với chuột có chế độ ăn kiểm soát. 5 trong số 21 chuột bổ sung isoflavone chết sớm, trong khi tất cả chuột ăn có kiểm soát thì sống. Trọng lượng tử cung, mức serum estradiol và serum isoflavone đều được đo. Kết luận đưa ra có sự gia tăng độ nhạy cảm với AOM (yếu tố gây ung thư trực tràng) trên chuột cái già với chế độ ăn có isoflavone đậu nành, cho nên cần khảo sát thêm trên phụ nữ, nhất là phụ nữ lớn tuổi, là những đối tượng chính của việc quảng bá dùng thực phẩm bổ sung đậu nành.

Nhiều cảnh báo trước đó

Trong nghiên cứu “Ung thư vú và liệu pháp hormone thay thế trên một triệu phụ nữ” được đăng trên tạp chí Y khoa hàng đầu thế giới The Lancet http://www.thelancet.com/pdfs/journals/lancet/PIIS0140-6736(03)14065-2.pdf công bố cho thấy dùng hóc môn thay thế (HRT) cho phụ nữ 50-64 tuổi đã gây thêm 20.000 ca ung thư vú trong giai đoạn 1996-2001 tại Anh. “Việc dùng HRT cho phụ nữ 50-64 tuổi tại Anh trong các thập niên qua đã làm tăng thêm 20.000 ca ung thư vú, 15.000 ca ở người dùng phối hợp oestrogen-progestagen; số chết khó xác định” – nghiên cứu chỉ ra. Việc dùng HRT hiện nay có mối liên kết với sự gia tăng nguy cơ mắc và tử vong do ung thư vú; tác động này mạnh ở nhóm phối hợp cả oestrogen-progestagen hơn là các kiểu HRT khác.

fda-canh-bao-ve-tac-hai-mam-dau-nanh-02

Tinh chất mầm đậu nành được các nghiên cứu chỉ ra nhiều tác hại

Từ năm 1995, nghiên cứu được thông tin trên Proceedings of the Society for Experimental Biology and Medicine 1995, cho thấy việc sử dụng tinh chất mầm đậu nành làm tăng genistein kích thích sự phát triển ung thư vú. Nghiên cứu của Hiệp hội nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ cho thấy, sử dụng đậu nành dạng tinh chất làm tăng genistein kích thích sự phát triển ung thư vú. Theo người này, nghiên cứu chỉ ra protein đậu nành chứa genistein đã làm tăng trưởng bướu phụ thuộc estrogen tỉ lệ thuận theo liều. Sự tăng sinh tế bào nhiều nhất ở bướu các động vật nhận estrogen hay genistein (150 và 300 ppm). Biểu hiện pS2 tăng lên trong bướu ở động vật dùng genistein (150 và 300 ppm). Những thông tin cho thấy đậu nành chứa genistein đã kích thích tăng trưởng tế bào ung thư vú phụ thuộc estrogen trên cơ thể sống tỉ lệ thuận với liều.

Thậm chí, trong nghiên cứu thực hiện bởi Khoa Y học cộng đồng của Trường Đại học Loma Linda, Hoa Kỳ nghiên cứu trên 11.000 phụ nữ độ tuổi 30-50 cho thấy phytoestrogens đậu nành phá vỡ chức năng nội tiết và có khả năng gây vô sinh. Ở phụ nữ dùng nhiều isoflavine đậu nành (>40mg/ngày) thì khả năng trong suốt cuộc đời để có một con bị giảm đi 3% so với phụ nữ dùng đậu nành ít hơn (<10mg/ngày). Từ đó, các nhà khoa học kết luận: Các phát hiện gợi ý rằng dùng nhiều isoflvone đậu nành trong chế độ ăn có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh sản.

Cách đây cả chục năm, một nghiên cứu của Mỹ cũng đã kết luận, nếu một phụ nữ sử dụng khoảng 45mg tinh chất mầm đậu nành (đậu tương)/ngày, thì sau 1 tháng sẽ xuất hiện những triệu chứng tương tự như đang dùng thuốc tamoxifen (một loại kháng estrogen chuyên dùng cho phụ nữ bị ung thư vú).

Theo Người tiêu dùng